Khóa học Diện Chẩn K6 Thầy Thật

Phần Mở đầu (Tổng quan):
Bài giảng giới thiệu về khóa học Diện Chẩn K6, tập trung vào việc cung cấp kiến thức về Diện Chẩn, dinh dưỡng và so sánh các phương pháp chữa bệnh Đông y, Tây y. Mục đích chính là giúp học viên có thêm hiểu biết, chủ động trong cuộc sống và chăm sóc sức khỏe cho bản thân cùng những người thân yêu.

Phần Thân bài (Phân tích chi tiết):

  1. Giới thiệu khóa học Diện Chẩn K6
    1.1. Thời lượng và nội dung
    1.1.1. Khóa học diễn ra trong 3 ngày.
    1.1.2. Hai ngày đầu: Học hoàn toàn về Diện Chẩn.
    1.1.3. Ngày thứ ba, buổi sáng: Học về một số loại cây và cách sử dụng thực phẩm khi có bệnh.
    1.1.4. Ngày thứ ba, buổi chiều: Chia sẻ về các chất dinh dưỡng căn bản.
    1.2. Yêu cầu và lợi ích
    1.2.1. Yêu cầu: Tập trung tối đa để tiếp thu thông tin tốt nhất.
    1.2.2. Khuyến khích: Ở lại ăn cơm trưa cùng nhau để duy trì sự tập trung.
    1.2.3. Lợi ích: Có nhiều hiểu biết, nhiều lựa chọn, cuộc sống dễ dàng hơn.
    1.2.4. Mục tiêu cá nhân của người giảng: Chia sẻ kiến thức để mọi người có thông tin, khả năng và năng lực.
    1.3. Cấu trúc buổi học đầu tiên
    1.3.1. Buổi sáng: Học lý thuyết.
    1.3.2. Buổi chiều: Thực hành trên đồ hình.
  2. Diện Chẩn: Môn khoa học của người Việt Nam
    2.1. Nguồn gốc và người sáng lập
    2.1.1. Diện Chẩn là môn khoa học do người Việt Nam phát minh.
    2.1.2. Người tìm ra và hệ thống hóa: Giáo sư tiến sĩ khoa học Bùi Quốc Châu.
    2.2. Nguyên lý hoạt động và ứng dụng
    2.2.1. Nguyên lý đã có từ khi loài người xuất hiện (chữa mẹo).
    2.2.2. Ví dụ về chữa mẹo: Nhả nghẹo ở mắt, cổ bằng que gạch để tìm sinh huyệt.
    2.3. Quá trình phát hiện Diện Chẩn của thầy Bùi Quốc Châu
    2.3.1. Năm 1980-1981: Thầy Bùi Quốc Châu vào trại cai nghiện chữa bệnh.
    2.3.2. Phát hiện ban đầu: Di chuyển vật bấm quẹt trên mặt làm bệnh nhân nghiện dừng sùi bọt mép.
    2.3.3. Quá trình khoanh và gạch trên mặt: Phát hiện các huyệt từ số 1 đến số 5.
    2.3.4. Đối chiếu với Đông y và Tây y: Nhận ra các điểm giao cắt của khí huyết và điểm nhạy cảm (huyệt).
  3. Khí và hệ thống dẫn khí trong cơ thể
    3.1. Bản chất của huyệt
    3.1.1. Huyệt là nơi có các lát cắt, các điểm giao nhau của đường khí, đường máu, đường thần kinh.
    3.1.2. Cơ thể có vô số các lát cắt, chỗ chung nhau, đường dẫn khí.
    3.2. Sự tồn tại của khí trong cơ thể
    3.2.1. Tây y chỉ biết đến máu và dẫn truyền thần kinh, không biết đến hệ thống dẫn khí.
    3.2.2. Khi chết, cơ thể trương lên do khí trong cơ thể không thoát ra được.
    3.2.3. Khí được giải phóng từ quá trình phân hủy chất trong cơ thể.
    3.2.4. Khí chứa nhiều nguyên tố như Hydro, Liti, Oxy, Phốt pho.
    3.3. Hệ thống kinh lạc
    3.3.1. Kinh lạc là hệ thống dẫn khí trong cơ thể, bao gồm đường kinh và đường lạc khí (đường lớn và đường nhỏ).
    3.3.2. Huyệt là điểm giao nhau của đường máu, đường thần kinh, đường khí và các đường dẫn truyền khác (bài tiết, tân dịch).
    3.3.3. Điểm giao nhau này rỗng, không đặc, không tắc, chi phối đường khí.
    3.4. Sự tắc nghẽn tại huyệt
    3.4.1. Huyệt dễ bị tắc do máu, cặn bẩn, khí, nước và chất dẫn truyền thần kinh đổ về.
    3.4.2. Tắc nghẽn gây nguy hiểm cho cơ thể.
    3.4.3. Để khỏe mạnh, cần khơi thông các huyệt.
  4. Phương pháp khơi thông trong Đông y
    4.1. Các phương pháp chính
    4.1.1. Châm cứu: Dùng kim châm cấp cứu.
    4.1.2. Ngải cứu: Cứu bằng ngải.
    4.1.3. Thuốc: Cứu bằng thuốc.
    4.1.4. Bấm: Bấm bằng tay hoặc dụng cụ.
    4.2. Lý thuyết Đông y
    4.2.1. Ngũ hành tương sinh tương khắc: Quan sát hiện tượng bên ngoài để đoán biết bản chất bên trong.
    4.2.2. Luận thuyết đúc kết hàng ngàn năm, xoay quanh quy luật vận hành của tự nhiên và vũ trụ.
    4.2.3. Con người là tiểu vũ trụ, tuân thủ quy luật sống của tự nhiên.
    4.2.4. Đông y quan sát con người, ghi chép và so sánh để đúc kết.
    4.3. Mối liên hệ giữa khí, máu và thần kinh
    4.3.1. Ở đâu có khí thì có máu, có máu thì có chất dẫn truyền thần kinh.
    4.3.2. Cơ thể lạnh (chân tay lạnh, bụng lạnh) biểu hiện khí, máu, thần kinh đều ít.
    4.3.3. Để khỏe mạnh, khí, máu, thần kinh phải cân bằng.
    4.3.4. Đả thông hỗ trợ thông khí, thông máu, thông dẫn truyền thần kinh.
    4.4. Hạn chế của Đông y
    4.4.1. Không chú trọng đến dinh dưỡng, yếu tố sinh ra khí, máu, thần kinh.
    4.4.2. Thuốc Đông y chỉ có dược tính, không có dinh dưỡng (đạm, béo, bột đường, vitamin, khoáng chất).
    4.4.3. Thuốc chỉ làm thông, không làm tăng cường dưỡng chất.
  5. Phương pháp chữa bệnh của Tây y
    5.1. Luận thuyết chính của Tây y
    5.1.1. Khoanh vùng.
    5.1.2. Đà Nẵng (có thể là lỗi chính tả hoặc từ lóng, không rõ nghĩa trong ngữ cảnh này, nhưng giữ nguyên theo input).
    5.1.3. Phẫu thuật.
    5.1.4. Xạ trị.
    5.1.5. Truyền hóa chất.
    5.2. Tác động của thuốc Tây y
    5.2.1. Thuốc chủ yếu tác động trực tiếp vào cơ chế thần kinh để dập tắt triệu chứng, biểu hiện khó chịu và nguy cơ trầm trọng bệnh.
    5.2.2. Ví dụ: Tiêm thuốc giảm đau vai, loại thuốc ức chế thần kinh mạnh nhất.
    5.2.3. Hậu quả của thuốc mạnh: Phá hủy thần kinh, tê liệt tạm thời, bệnh không khỏi hoàn toàn.
    5.2.4. Tiêm Corticoid, H5000, C500 có thể làm biến dạng đầu xương, gây cọ xát và đau đớn.
    5.2.5. Khi xương mòn và dính chặt, tạo gai xương, gây cứng khớp.
    5.3. Xử lý của Tây y khi bệnh nặng
    5.3.1. Tiếp tục tiêm thuốc giảm đau.
    5.3.2. Khuyên tập các động tác để giảm đau khi không muốn mổ.
    5.3.3. Tây y xử lý cấp tính, thường khi bệnh đã thành tật.
    5.3.4. Khoanh vùng, bao vây bằng hóa chất để ngăn bệnh lan rộng, sau đó tiêu diệt hoặc khoét bỏ.
    5.3.5. Nếu khối u ác tính (có chữ C), sẽ xạ trị.
    5.3.6. Mục đích: Dập tắt biểu hiện khó chịu và nguy cơ làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh tại thời điểm đó.
    5.4. Hạn chế và tác dụng phụ của thuốc Tây y
    5.4.1. Thuốc giảm đau mạnh có thể làm tê liệt thần kinh, nhưng bệnh không khỏi hoàn toàn.
    5.4.2. Lạm dụng thuốc giảm đau gây nhiều tác dụng phụ: đau dạ dày, rối loạn gan, suy nhược thần kinh.
    5.4.3. Các loại thuốc sủi chứa khí nén (Oxy lén) kích thích thần kinh, nhưng cũng chứa hóa dược gây hại.
    5.4.4. Hóa dược tích tụ trong gan, thận, phổi, và hệ thần kinh.
    5.4.5. Ví dụ về tích tụ hóa chất: Khạc ra mùi penicillin sau 20 năm, mỡ và chất bảo quản tích tụ trong ruột và gan do ăn mì tôm.

Phần Kết luận:
Bài giảng đã trình bày tổng quan về Diện Chẩn, nguồn gốc và nguyên lý hoạt động của nó, đồng thời phân tích sâu sắc về hệ thống khí trong cơ thể. Qua đó, so sánh các phương pháp chữa bệnh của Đông y và Tây y, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của từng phương pháp, đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của dinh dưỡng trong việc duy trì sức khỏe.

1. Giới thiệu khóa học Diện Chẩn K6

Buổi học của chúng ta sẽ được Thật tóm tắt những nội dung quan trọng nhất. Khóa học diễn ra trong 3 ngày.

Hai ngày đầu, chúng ta sẽ học hoàn toàn về Diện Chẩn. Ngày thứ ba, buổi sáng chúng ta sẽ học về một số loại cây và cách sử dụng thực phẩm khi có bệnh. Buổi chiều ngày thứ ba, Thật sẽ chia sẻ về các chất dinh dưỡng căn bản để mọi người nắm được.

Trong ba ngày học, Thật rất mong tất cả các cô chú, anh chị và các em tập trung tối đa để tiếp thu thông tin tốt nhất. Buổi trưa, mọi người nên ở lại ăn cơm cùng nhau. Điều này giúp chúng ta vui vẻ và sau khi ăn xong, nghỉ ngơi, buổi chiều chúng ta có thể tập trung học tiếp. Nếu về nhà, chúng ta có thể bị sao nhãng bởi công việc gia đình.

Chúng ta chỉ có 3 ngày để cố gắng tập trung học và tiếp thu. Sau đó, những buổi sau chúng ta sẽ áp dụng ngay kiến thức để thực hành liên tục. Ý nghĩa tốt nhất trong cuộc sống là chúng ta có nhiều hiểu biết, từ đó có nhiều lựa chọn và làm cho cuộc sống trở nên dễ dàng hơn rất nhiều.

Thứ nhất, khi hiểu biết, chúng ta không phải nghi ngờ. Thứ hai, chúng ta sẽ chủ động trong cuộc sống. Thứ ba, hiểu biết giúp không chỉ cá nhân mình mà cả những người thân yêu cũng có được thông tin, khả năng và năng lực giống chúng ta. Đó là điều Thật mong muốn từ giờ đến lúc chết: đi chia sẻ với mọi người những gì mình biết và hy vọng nhận được sự đón nhận của tất cả mọi người.

Hôm nay, chúng ta sẽ học hai buổi: buổi sáng học lý thuyết, buổi chiều thực hành. Thực hành ở đây chúng ta sẽ thực hành trên đồ hình. Còn búa gõ, dùi đục thì để mấy ngày sau. Buổi chiều chúng ta sẽ cố gắng tóm tắt một cách ngắn gọn nhất.

2. Diện Chẩn: Môn khoa học của người Việt Nam

Diện Chẩn là một môn khoa học do người Việt Nam chúng ta phát minh, không phải Trung Quốc hay bất kỳ nước nào khác trên thế giới. Người tìm ra và hệ thống lại các nguyên lý này là thầy Bùi Quốc Châu, giáo sư tiến sĩ khoa học Bùi Quốc Châu. Tuy nhiên, nguyên lý hoạt động và ứng dụng của Diện Chẩn trong đời sống đã có từ khi loài người xuất hiện.

Ngày xưa, các cụ hay chữa mẹo, đó chính là chữa Diện Chẩn. Ví dụ, khi bị nghẹo, chúng ta thường đi nhả. Nhả ở đây không phải là nhả ở vai mà là nhả ở mắt, ở cổ. Khi chúng ta cầm que gạch qua mà thấy buốt, nhói lên, đó chính là tín hiệu nhận biết sinh huyệt. Chỉ cần làm thông chỗ đó trong vài giây là hết đau, rất nhanh.

Năm 1980-1981, thầy Bùi Quốc Châu, một lương y, đã vào trại cai nghiện để chữa bệnh cho bệnh nhân nghiện. Khi thầy di chuyển một vật bấm quẹt đến một chỗ trên mặt, một bệnh nhân đang bị sùi bọt mép, run rẩy và nôn mửa đã dừng lại ngay lập tức. Thầy thấy điều này rất hay.

Sau đó, thầy bắt đầu khoanh và gạch trên mặt, từ huyệt số 1, số 2, số 3, số 4 (nằm trong con ngươi) đến huyệt số 5. Thầy cứ gạch cho đến khi bệnh nhân giật mình, thầy đánh dấu đó là huyệt. Huyệt đầu tiên được phát hiện là huyệt số 1. Cứ như vậy, những ngày sau, thầy gạch khắp cơ thể và khuôn mặt.

Chỗ nào gạch mà thấy có phản ứng, thầy bắt đầu đối chiếu với nguyên lý của Đông y và giải phẫu của Tây y. Thầy nhận ra đó là những điểm giao cắt của khí huyết và những điểm nhạy cảm, hay còn gọi là huyệt. Đối chiếu với các huyệt của Đông y, Đông y chạy theo huyệt khí, còn những huyệt này chủ yếu vẫn nằm trên đường khí, đường máu và đường thần kinh giao nhau.

Thật đã mất 6 tháng để tư duy ra bản chất của huyệt. Huyệt là nơi có các lát cắt, các điểm giao nhau. Trong cơ thể chúng ta có vô số các lát cắt, các chỗ chung nhau, các đường dẫn khí. Bình thường, chúng ta nghĩ rằng trong người mình không có khí. Tây y chỉ biết đến máu, dẫn truyền thần kinh, vì khi sờ thấy đau, bóp thì biết đến thần kinh.

Nhưng Tây y không hề biết rằng trong cơ thể chúng ta có một hệ thống dẫn truyền lớn nhất và quan trọng bậc nhất, đó là hệ thống dẫn khí. Khi một người chết, cơ thể sẽ trương lên. Điều này không phải do khí chui vào mà là khí trong cơ thể không thoát ra được. Tất cả các đường kinh khí sau khi chúng ta chết, các chất bên trong vẫn tiếp tục phân hủy.

Cho dù là thức ăn vào cơ thể, dù lúc sống hay lúc chết, nó vẫn tiếp tục phân hủy. Khi phân hủy, nó giải phóng ra rất nhiều thứ, trong đó có khí. Khí chứa nhiều nhất trong bảng tuần hoàn của Mendeleev, bao gồm á kim, kim loại, khí và các chất khí như Hydro, Liti, Oxy và rất nhiều các chất khác.

2. Khí và hệ thống dẫn khí trong cơ thể

Phốt pho, nhiều loại khí khác, đều là khí cả. Tất cả các chất này liên kết với nhau. Các nguyên tố liên kết để tạo thành chất. Mọi người có biết đây là công thức của chất gì không? Đây là vitamin C đấy.

Nếu uống vào cơ thể, nó sẽ giải phóng carbon, hydro, oxy. Chúng ta có tám nguyên tử hydro và sáu nguyên tử oxy. Vậy nếu trong cơ thể chúng ta không có ống dẫn khí thì sao? Cơ thể chúng ta có giống quả bóng không? Nó sẽ trương bụng lên to đùng như con chuột chết vậy.

Trong cơ thể chúng ta có một hệ thống dẫn khí, hệ thống đó gọi là kinh lạc. Kinh lạc có các đường kinh và đường lạc khí, tức là có đường lớn và đường nhỏ. Huyệt là nơi có đường máu, đường thần kinh, đường khí và rất nhiều đường dẫn truyền khác như bài tiết, tân dịch.

Tất cả những đường này khi giao nhau, tại điểm giao nhau này nó rỗng, không đặc, không bị tắc. Nó giao nhau ở đây để chi phối đường khí. Nó nhỏ như thế này. Tại thời điểm này, chỗ giao nhau này gọi là huyệt.

Chỗ này giao nhau nên có bị tắc không? Nó giống như nút giao thông, như kênh mương khi mưa, chỗ giao nhau thường bị tắc. Máu vào đây, cặn bẩn cũng bám vào đây. Khí đổ ra đây, cặn bẩn cũng bám vào đây. Nước và các chất dẫn truyền thần kinh cũng đổ về đây. Cho nên chỗ này rất dễ bị tắc.

Nếu cơ thể chúng ta không thông thì có nguy hiểm không? Nó tắc ở đây, tắc tất cả, rất nguy hiểm. Vậy thì bây giờ, nếu muốn cơ thể khỏe mạnh, bắt buộc phải khơi thông những chỗ này. Đông y khơi thông bằng cách nào?

3. Phương pháp khơi thông trong Đông y

Đông y dùng kim châm cấp cứu, gọi là cứu bằng kim. Hai là cứu bằng ngải cứu. Ba là cứu bằng thuốc. Cứu ở đây là để người bệnh không chết, là trợ giúp, hỗ trợ. Đông y còn dùng bấm bằng tay hoặc dụng cụ để cứu.

Lý thuyết của Đông y là ngũ hành tương sinh tương khắc. Tức là quan sát hiện tượng bên ngoài để đoán biết bản chất bên trong, không thông qua các loại thiết bị máy móc. Người ta quan sát biểu hiện bên ngoài, so sánh các biểu hiện này với biểu hiện khác và đưa ra một hệ thống luận thuyết đã đúc kết hàng ngàn năm, hàng trăm năm.

Luận thuyết đó có đặc trưng lớn nhất là tương sinh tương khắc, xoay quanh quy luật vận hành của tự nhiên, quy luật vận hành của vũ trụ và ứng với bên trong cơ thể con người. Cho nên người ta gọi con người chúng ta là tiểu vũ trụ. Quy luật chúng ta sống được là phải quay theo chiều quay của Trái đất. Chúng ta vẫn bị ảnh hưởng của năng lượng các hành tinh xung quanh, tuy nhiên rất ít, xa nên không cảm nhận được.

Trong tổng thể sinh vật sống, chúng ta cũng là một loài trên thực thể sống này, nên vẫn phải tuân thủ quy luật sống đó. Vì vậy, Đông y dựa trên những nguyên lý này để quan sát con người. Từ đó ghi chép lại và so sánh với hàng trăm người bị bệnh và hậu quả tương tự, rồi đúc kết, theo dõi.

Trong ba đường này: đường khí, đường máu, đường thần kinh, ở đâu có khí thì ở đó có máu, ở đâu có máu thì ở đó có các chất dẫn truyền thần kinh. Bây giờ một người bị nguội lạnh thì ở đó có máu không? Có thần kinh không? Nằm im hết đúng không? Người đó nằm ở một chỗ nhỏ nhỏ xinh xinh mà không ai biết.

Cho nên, nếu là người mà lạnh ngắt, các cô bác anh chị đừng để cơ thể mình lạnh nhé. Ai mà cơ thể mình lạnh, đặc biệt là chân tay lạnh, đầu hơi ấm ấm, bụng lạnh là cẩn thận đấy. Người mình lạnh có nghĩa là khí nhiều hay ít? Khí rất ít đúng không? Máu nhiều ít? Thần kinh nhiều ít? Thằng này ít thì thằng kia đâu ra nhiều?

Cho nên, nếu chúng ta muốn khỏe, chúng ta phải làm thế nào? Thằng này phải cân bằng, thằng này phải cân bằng, và thằng này phải cân bằng. Thông qua việc đả thông này là để hỗ trợ thông khí, thông máu và thông dẫn truyền thần kinh. Nhưng có một điều quan trọng nhất mà cả Đông y không chú ý đến, đó là thứ sinh ra những thứ này.

Chúng ta sẽ học luôn vào chiều thứ ba một chủ đề cực kỳ quan trọng: cái mà nó sinh ra những thứ này, đó là dinh dưỡng. Dinh dưỡng sẽ sinh ra cả ba thứ này, nhưng Đông y cũng không chú trọng. Chủ yếu là dùng thuốc, dùng kim châm, dùng tay và dụng cụ. Trong thuốc không có dinh dưỡng nhé.

Đun thuốc thì các dinh dưỡng như chất đạm, chất béo, chất bột đường, các loại vitamin, khoáng chất, nếu đun thành cô thành cao thì làm gì có? Nó chỉ còn các dược tính thôi. Dược tính đó gọi là thuốc. Cho nên khi chúng ta uống thuốc vào, cơ thể chúng ta sẽ không được nuôi dưỡng. Nó chỉ làm thông thôi, nhưng phải đúng đủ thì tác dụng lớn nhất của nó là chỉ làm thông thôi.

Cho nên, nếu chúng ta đang còm, đang yếu, đang mất cân bằng, thì uống thuốc vào để cho nó cân bằng thôi, nhưng không làm cho nó nhiều lên được. Đây là một điều mà mọi người chúng ta hay bị nhầm, không rõ ràng. Vậy nếu muốn chữa được bệnh, chúng ta cần phải có dưỡng để nuôi cái này. Vậy thì Tây y chữa thế nào?

4. Phương pháp chữa bệnh của Tây y

Tôi muốn chia sẻ với mọi người cách chữa bệnh. Có thể có người bảo mô hình này không phải chính thống, nó vớ vẩn. Nhưng nó vớ vẩn mà rất hiệu quả thì vớ vẩn có được không? Nếu ai bảo vớ vẩn nhưng nó rất hiệu quả, cái không vớ vẩn mà không xử lý được, mà cái vớ vẩn nó xử lý được thì cái vớ vẩn có ok không? Ok quá đấy chứ.

Vậy thì bây giờ Tây y chữa bệnh như nào? Tây y xử lý như nào? Luận thuyết của Tây y có một nguyên lý như thế này. Nguyên lý chính của Tây y là khoanh vùng. Thứ hai là Đà Nẵng. Thứ ba là phẫu thuật. Thứ tư là xạ trị. Thứ năm là truyền hóa chất. Còn thứ sáu thì không cần phải nói nữa, tức là truyền hóa chất thì rồi thành hóa kiếp. Thứ sáu là xe hóa kiếp. Ai mà truyền hóa chất thì cứ chuẩn bị đến giai đoạn thứ sáu, giai đoạn hóa kiếp. Nhưng thôi, không viết ở đây. Thế bây giờ sử dụng như nào đây? Và khoanh vùng ở đây.

Dùng thuốc tác động vào thần kinh để dập tắt triệu chứng

Thuốc chủ yếu tác động trực tiếp vào cơ chế thần kinh để dập tắt các triệu chứng, biểu hiện khó chịu và các nguy cơ làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh. Đây là luận thuyết của Tây y, chỉ đúng trong phạm trù của các luận thuyết này, còn việc có đúng với cơ thể chúng ta hay không thì cần áp dụng vào thực tế để biết.

Ví dụ, khi bị đau vai, bác sĩ sẽ tiêm thuốc để giảm đau nhanh nhất. Loại thuốc nào ức chế thần kinh mạnh nhất sẽ được sử dụng để tác động trực tiếp vào các cơ chế thần kinh. Nếu có loại thuốc nào giúp khỏi nhanh nhất, thì loại đó cũng phá hủy thần kinh một cách khủng khiếp.

Khi cơ thể đào thải hết dược tính, nó sẽ báo lên não rằng cơn đau vẫn còn. Lúc này, nếu tiêm một liều mạnh, có thể làm tê liệt trong một hoặc hai năm, nhưng bệnh không khỏi hoàn toàn. Nếu để lâu, đầu xương có thể bị mục nát.

Việc tiêm nhiều loại thuốc mạnh như Corticoid hay H5000, C500 có thể khiến đầu xương bị biến dạng, không còn tròn trịa mà bị tước hết. Khi đó, hai đầu xương sẽ cọ xát vào nhau gây đau đớn. Sau hai năm, cơn đau có thể khủng khiếp hơn, hoặc hai đầu xương mòn hết và dính chặt vào nhau, khiến khớp không còn cử động được.

Nhiều người bị cứng khớp, không thể giơ tay lên hoặc phải quay cả người khi muốn xoay cổ. Các đốt xương và cơ bị kéo cứng lại, vít chặt xương vào nhau, gây cọ xát trong biên độ dao động nhỏ và đau đớn. Khi hai đầu xương mòn nhẵn và dính chặt vào nhau, các mạt xương và cặn bã sẽ đọng lại, tạo thành gai xương. Lúc này, hai đầu xương sẽ cứng đờ với nhau.

Vậy Tây y xử lý thế nào? Họ tiếp tục tiêm thuốc giảm đau. Một bác sĩ giỏi từng tư vấn trên VTV2 rằng nếu không muốn mổ, hãy tập các động tác để giảm đau. Khi nào cơ thể chai lì hoặc có cơ bị tật ra thì sẽ hết đau. Tuy nhiên, khi trở trời, cơn đau có thể tái phát.

Khi gặp khí lạnh, cơ thể khỏe mạnh sẽ phản ứng và đẩy khí lạnh ra ngoài. Người yếu hơn thì không ho được, điều này rất nguy hiểm. Theo Tây y, không đi khám bệnh, không đến bệnh viện là khỏe mạnh. Nhưng chúng ta cần hiểu rằng đó là cơ chế phản vệ của cơ thể.

Thực ra, Tây y ra đời để xử lý cấp tính nhiều trường hợp. Hầu hết bệnh nhân đến với Tây y đều ở giai đoạn muộn, khi bệnh đã thành tật. Lúc này, các bác sĩ sẽ khoanh vùng, bao vây bằng hóa chất để ngăn bệnh lan rộng, sau đó tiêu diệt nó. Nếu không tiêu diệt được, họ sẽ khoét bỏ.

Nếu việc khoanh vùng thất bại, bệnh vẫn lan ra và nặng hơn, bác sĩ sẽ quyết định phẫu thuật cắt bỏ. Nếu không cắt, bệnh có thể loang ra, thối rữa, nguy hiểm hơn. Mục đích của Tây y là dập tắt các biểu hiện khó chịu và nguy cơ làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh tại thời điểm đó. Dù đau đớn, nhưng ít nhất bệnh nhân không chết ngay hoặc không bị nặng hơn.

Nếu bệnh nặng hơn, họ sẽ tiếp tục điều trị. Nếu khối u chuyển sang ác tính (có chữ C), họ sẽ xạ trị. Nếu phẫu thuật mà khối u lành tính, thì cứ thế thôi. Ví dụ, mổ khớp háng xong, dù đi lại khó khăn, bệnh nhân cũng phải chấp nhận vì nếu không mổ thì có nguy cơ bị liệt. Bác sĩ có thể nẹp, bó và cho uống thuốc, nhưng nếu xương bị lồi ra, việc cử động vẫn rất khó khăn.

Hôm qua tôi về nghiến răng, tôi phải vã mồ hôi. Tôi phải nghiến răng nghiến lợi thì nó mới làm được một cọc. Chứ bây giờ bảo động viên: “Em ơi, vào đi em”, nó có vào không? Xong rồi đi ra châm cứu. Châm cứu có vào không? Châm cứu chỉ để thông chỗ thôi. Mà cái cơ nó căng đét, cái dây chun nghiến răng nghiến lợi còn chả kéo nó ra được. Bây giờ còn châm cái tí tí này xong bảo: “Em vào đi em”. Sao uống thuốc nó bảo: “Em vào đi em”, nó có vào không? Nó bảo: “Anh động viên em hoài mà anh không làm gì cho em hết”. Đã bảo người ta không vào được thì bảo là du cho người ta vào thì lại không du.

Thế bây giờ nhá, tôi ăn thuốc rồi không được đúng không? Thì họ tiếp tục sẽ khuyên. Nếu mà nhỡ nhá, cái người để lâu rồi, độc tố nó vào nhiều rồi, nó bị viêm nhiễm nhiều năm rồi. Thì lúc bắt đầu giờ chỗ này xong bắt đầu mới phát hiện ra nó có cái chữ gì? Cái chữ K này. Thế thì em sẽ làm một cái bước tiếp theo. Cái bước tiếp theo nữa là gì? Và bước tiếp theo nữa là gì? Thiếp hay là hóa vàng? Đến chỗ này đến giai đoạn hóa đấy.

Nhưng mà thực ra là gì? Chúng ta vì quá nhiều người bệnh đến cùng một lúc. Cho nên là vì cấp tốc, cho nên là Tây phải ra đời để giải quyết cái vấn đề này. Hoặc là bây giờ đang đau quá. Đau nó lộn từ trên giường xuống đất, nó trồng mông trồng tĩ. Nên lỗ vẫn chả hết đau. Đứng nó cũng đau, ngồi nó cũng đau, nằm nó cũng đau. Thế thì bác sĩ thì phải gì? Thôi anh cho nó một phát cho nó ngủ. Chú mày đỡ khổ.

Thực ra trong góc độ nào đó có tốt không ạ? Rất tốt. Không thì đau đến nó có bắt thì hết sức mình thì mình cũng chết. Thế nhưng mà nếu lạm dụng nó thì thế nào? À thì nó quá kinh khủng. Cái đầu nó đơ còn gì nữa. Nếu mà cứ tiêm cái đó nhiều thì làm sao? Ở đây ai tiêm, ai uống thuốc giảm đau nhiều ạ? Giơ tay trải nghiệm. Ok. Thế tinh thần mình thế nào sau khi uống thuốc nhiều năm hả? Nó đau thì nó vẫn đau à? Nó đau nó vẫn đau nhưng mà có kèm thêm một số bệnh nữa không?

Nếu như uống thuốc giảm đau nhiều năm, nếu ai không bị đau dạ dày thật đi đầu đất. Thứ hai nữa là ai mà không bị là rối loạn gan thật đi đầu đất. Ai mà không bị suy nhược thần kinh thật đi đầu đất. Ba cái bệnh đấy nếu mà uống thuốc giảm đau như là Paracetamol, tất cả cái loại gì mà có sủi nhá, cẩn thận đấy. Nó sủi nó cũng làm cho đời mình bốc khói luôn đấy. Tất cả các loại sủi đấy là loại sủi kinh khủng.

Mọi người biết vì sao mà họ phải cho cái sủi đó? Sủi đấy là cái gì ạ? Mọi người nhìn thấy cồn khô chưa? Cồn khô nấu ấy. Nhìn thế nào? Oxy lén kìa. Trong cái bình đấy nhìn đầy bình oxy đấy. Sủi oxy đấy. À thì cái viên sủi nó chính là nó đấy. Nó lén nó chỉ có khác không cho vào lỏng mà nó là dạng gì? Dạng rắn. Nó đều là khí lén đấy. Khi nó giải phóng ra thì nó làm gì? Nó kích thích cho hưng phấn thần kinh để làm gì? Hi vọng là những cái chỗ nào nó bị co thắt nó giải tỏa tạm tạm thời.

Nhưng mà trong cái đó nó có thuốc gì? Nó có cái thuốc giảm đau để nó làm mát xa thần kinh. Nhưng mà trong cái thuốc đó nó có rất nhiều các cái hóa dược khác nữa. Và những hóa dược này làm chất dẫn. Và những hóa dược này khi nó về gan thì nó bảo: “Em không đi đâu đâu anh ạ”. Mười thằng nó bảo là tám thằng nó bảo là: “Không, chỗ này là tuyệt vời với em, em không ra ngoài nữa”. Nó đến phổi nó hai thằng kia. Xong đến thận nó bảo: “Úi giời, mấy thằng kia ngu quá, chỗ này ngon hơn. Thôi hai thằng em ở lốt chỗ này”. Thế là có mười phần thì nó sẽ chia nhau ở gan một ít, ở thận một ít. Chịu khó mà uống. Và gì? Là một số thằng nó kinh hơn nó bảo là: “Em phải lên đây cơ, nó cao hơn”. Và nó nằm đây này, nằm trong ống thần kinh, nằm trong cái nơ ron thần kinh đệm, nằm trong vùng thần kinh.

Có những bệnh nhân mà thật ra là chia sẻ cho là khi mà thải độc ra uống penicillin, mà hai mươi năm sau không uống penicillin. Mà lúc nó thải trong phổi ra á, bị viêm phổi mà viêm phổi là mãn bảy năm rồi. Viêm phổi đã uống hàng đống penicillin ngày xưa đấy. Mà đến lúc nó thải độc ra ấy là khạc ra là toàn mùi penicillin ở trong cái đờm. Một tuần không hết mùi penicillin. Mà bảo súc miệng các kiểu, uống ăn các kiểu các loại mà không hết mùi. Kinh khủng. Rất là kinh khủng. Và rất nhiều các cái hóa chất khác vào trong cơ thể chúng ta.

Người ta mổ cái đại tràng ra những người mà ăn mì tôm. Sáng ăn mì tôm, trưa ăn mì tôm, tối ăn mì tôm. Ngày tháng ba mươi ngày thì mười lăm ngày ăn mì tôm. Xong lúc vào sao bị chết do thối ruột. Và lúc bắt đầu người ta phẫu thuật cái tử thi ra, người ta phanh nó ra. Các bác biết cái gì trong ruột không? Biết cái gì trong ruột, trong gan không ạ? Mỡ. Mỡ lại mỡ vàng cơ, màu vàng đấy là cái gì đấy ạ? Đó là hương liệu tạo màu, đó là các chất bảo quản. Nó két lại ở trong cái thành ruột của cái người đấy dày hai phân. Và nó làm thối một đoạn ruột. Và người đấy bị tử vong.

Và nói đến tuổi là giật mình đấy. Hai mươi sáu tuổi đang làm công nhân tự nhiên thế đau bụng xong xỉu chết. Đến cuối cùng pháp y người ta phải ra người ta phẫu thuật. Và tiền sử của anh này là thích mì tôm. Và trong nhà anh ấy là các loại mì tôm trên đời, sưu tầm mì tôm. Và cuối cùng là một lút một đoạn ruột ba mươi lăm phân. Nó lút mỡ về tất cả các chất độc đấy. Và người ta là trải cái gan nó ra thì cắt xỉa cái gan ra nó phủi ra đen xì. Chứng tỏ là chất độc và các cái hóa dược ấy nó vào cho cơ thể chúng ta là kinh khủng khiếp đấy. Và đấy là cả Đông y lẫn Tây y chúng ta đã được thật chia sẻ như vậy. Thế vậy bây giờ chúng ta chữa bệnh như thế nào? Ok, giờ chúng ta đã sang cái phần tính.

Tác giả: Thầy Thật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *