Phân biệt Khổ và Khổ Đế trong Phật giáo

Phần Mở đầu (Tổng quan)

Bài giảng tập trung phân tích sự khác biệt giữa khái niệm “Khổ” thông thường và “Khổ Đế” trong giáo pháp Phật giáo. Mục đích là làm rõ hiểu biết đúng đắn về khổ, tránh những quan niệm sai lầm dẫn đến bi quan hoặc lạc quan thái quá, từ đó giúp người học Phật thấu triệt chân lý đầu tiên của Tứ Diệu Đế.

Phần Thân bài (Phân tích chi tiết)

1. Sự hiểu lầm về Khổ và Khổ Đế

  • 1.1. Nhận thức sai lầm phổ biến
    • 1.1.1. Đồng nhất Khổ với Khổ Đế, dẫn đến quan niệm đạo Phật bi quan.
    • 1.1.2. Phủ nhận khổ khi cuộc sống vui vẻ, cho rằng đạo Phật bi quan.
  • 1.2. Mục đích của Phật giáo khi nói về khổ
    • 1.2.1. Không phải nói về khổ cá nhân mà là hiểu biết đúng sự thật về Khổ Đế.
    • 1.2.2. Hiểu biết đúng sự thật giúp tránh thái độ cực đoan (bi quan/lạc quan).
  • 1.3. Phân biệt các loại sự thật
    • 1.3.1. Sự thật cá nhân: Xảy ra với người này, không xảy ra với người kia (ví dụ: đau bụng, thất tình).
    • 1.3.2. Sự thật phổ quát (chân lý): Có tính quy luật, đúng cho tất cả mọi người, mọi lúc, mọi nơi.
  • 1.4. Khổ Đế là hiểu biết đúng sự thật phổ quát về khổ
    • 1.4.1. Không phải ai cũng có hiểu biết đúng sự thật về khổ.
    • 1.4.2. Phân biệt Vô minh tà kiến (hiểu biết sai) và Minh chánh kiến (hiểu biết đúng).
    • 1.4.3. Quá trình Trạch pháp giúp phân biệt hiểu biết đúng và sai về Khổ Đế.

2. Khổ Đế theo Kinh Chuyển Pháp Luân

  • 2.1. Nội dung Thánh đế về khổ
    • 2.1.1. Bảy điều khổ trên mặt hiện tượng:
      • Sanh là khổ.
      • Già là khổ.
      • Bệnh là khổ.
      • Chết là khổ.
      • Cầu bất đắc khổ (cầu mong không được).
      • Oán tắng hội khổ (oán giận nhau mà phải sống chung).
      • Ái biệt ly khổ (yêu thương nhau mà phải chia lìa).
    • 2.1.2. Một điều khổ trên mặt bản chất: Tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
  • 2.2. Khổ Đế là sự thật phổ quát cho mọi thời đại (mặt hiện tượng)
    • 2.2.1. Tính phổ quát của sinh, già, bệnh, chết:
      • Đúng cho tất cả con người, không bị chi phối bởi thời gian.
      • Ví dụ: Già yếu, bệnh tật là nỗi khổ chung của mọi người già.
      • Ví dụ: Bệnh tật (nan y, cảm cúm) đều gây khổ cho mọi người.
      • Ví dụ: Cái chết gây khổ cho người đối diện và người thân.
    • 2.2.2. Tính phổ quát của cầu bất đắc khổ:
      • Mọi người (già, trẻ, giàu, nghèo) đều trải qua khi mong cầu không được.
      • Ví dụ: Ông già mong con về thăm, đứa trẻ đòi bú mẹ.
    • 2.2.3. Tính phổ quát của oán tắng hội khổ:
      • Sự thật trần trụi khi phải gặp gỡ, chung sống với người mình oán giận.
    • 2.2.4. Tính phổ quát của ái biệt ly khổ:
      • Nỗi khổ khi phải xa cách người/vật mình yêu thương (phụ tình, cái chết).
  • 2.3. Phân biệt Khổ cá nhân và Khổ Đế
    • 2.3.1. Khổ cá nhân (đau bụng, thất tình) không phải quy luật phổ quát.
    • 2.3.2. Sinh, già, bệnh, chết, cầu bất đắc, oán tắng hội, ái biệt ly là Khổ Đế vì đúng cho tất cả mọi người.
  • 2.4. Ứng dụng trong việc gieo duyên và thuyết phục
    • 2.4.1. Chỉ ra sự thật phổ quát về khổ giúp người không thấy mình khổ phải chấp nhận.
    • 2.4.2. Lựa chọn dẫn chứng phù hợp với từng đối tượng (ví dụ: học sinh với cầu bất đắc khổ).

3. Tuệ tri Khổ Đế: Bản chất của Khổ và Năm thủ uẩn

  • 3.1. Khổ Đế về mặt bản chất
    • 3.1.1. Kinh điển khẳng định: Tóm lại năm thủ uẩn là khổ.
    • 3.1.2. Vô minh là hiểu biết sai sự thật về Khổ, Tập, Diệt, Đạo, không phải là không biết.
  • 3.2. Hiểu biết sai lầm về bản chất của khổ (Vô minh, Tà kiến)
    • 3.2.1. Cho rằng khổ hay vui luôn thường hằng ở thế giới bên ngoài.
    • 3.2.2. Tin rằng khổ nằm sẵn trong hoàn cảnh sống (nghèo đói, bệnh tật) hoặc do người khác gây ra.
  • 3.3. Hiểu biết đúng về bản chất của khổ (Năm thủ uẩn là khổ)
    • 3.3.1. Chấp thủ là khi cho rằng Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức là ta, là của ta.
    • 3.3.2. Chính tư tưởng chấp ngã này (năm thủ) mới phát sinh khổ.
    • 3.3.3. Khổ thuộc về nội tâm, không có sẵn nơi ngoại cảnh hay năm uẩn.
  • 3.4. Lộ trình tâm Bát tà đạo dẫn đến khổ
    • 3.4.1. Căn trần tiếp xúc phát sinh Thọ, Tưởng.
    • 3.4.2. Duyên Thọ Tưởng phát sinh Tà niệm, Tà tư duy, Tà tri kiến.
    • 3.4.3. Tà tri kiến (biết sai lạc) dẫn đến Tham, Sân, Si.
    • 3.4.4. Từ đó phát sinh Tà định, Dục, Tà tinh tấn, Phi như lý tác ý, và cuối cùng là Khổ.
  • 3.5. Vai trò của tư tưởng chấp ngã (năm thủ)
    • 3.5.1. Chủ thể biết (ta biết, của ta, hơn ta, kém ta, bằng ta) là tư tưởng chấp ngã.
    • 3.5.2. Khi chủ thể chấp ngã tương tác với đối tượng dễ chịu (Tham), khó chịu (Sân), trung tính (Si) thì khổ phát sinh.
    • 3.5.3. Năm thủ uẩn là khổ vì khổ phát sinh do tư tưởng chấp ngã tương tác với đối tượng.

4. Khổ là do Duyên Khởi và Duyên Xúc

  • 4.1. Khổ phát sinh nơi nội tâm, nguyên nhân là tư tưởng chấp ngã (năm thủ uẩn)
    • 4.1.1. Năm thủ uẩn là cách nói tắt của tư tưởng chấp ngã.
    • 4.1.2. Khổ là do duyên khởi, do duyên xúc.
  • 4.2. Tiến trình duyên khởi của khổ
    • 4.2.1. Căn trần tiếp xúc, Thọ Tưởng phát sinh đồng thời.
    • 4.2.2. Duyên Thọ Tưởng phát sinh Tà niệm, Tà tư duy, Tà tri kiến (có tư tưởng chấp ngã – năm thủ uẩn).
    • 4.2.3. Duyên năm thủ uẩn phát sinh Tham, Sân, Si.
    • 4.2.4. Duyên Tham Sân Si phát sinh Tà định, Dục, Tà tinh tấn, Phi như lý tác ý.
    • 4.2.5. Duyên Phi như lý tác ý phát sinh Tà ngữ, Tà nghiệp, Tà mạng, và cuối cùng là Khổ.
  • 4.3. Khổ là do duyên xúc
    • 4.3.1. Khổ chỉ khởi lên khi căn trần tiếp xúc.
    • 4.3.2. Ví dụ: Khi ngủ say, ngất, gây mê sâu (sáu căn không hoạt động, không có xúc) thì không có khổ.
    • 4.3.3. Ví dụ: Tránh tiếp xúc với người mình ghét thì khổ không khởi lên.
    • 4.3.4. Ví dụ: Ý tiếp xúc với pháp (tưởng thấy người ghét) thì khổ vẫn khởi lên.
  • 4.4. Tính chất của khổ do duyên khởi
    • 4.4.1. Vô thường: Khổ sinh lên rồi diệt đi.
    • 4.4.2. Vô chủ, vô sở: Khổ không phải của ai, không có chủ nhân.
  • 4.5. Trạch pháp và tuệ tri vô minh về khổ
    • 4.5.1. Vô minh là hiểu biết sai về khổ (khổ ở nội tâm lại cho rằng ở bên ngoài).
    • 4.5.2. Các tà kiến phổ biến về khổ:
      • Thường kiến: Khổ do nghiệp từ kiếp trước (có cái ta thường hằng tạo nghiệp và trả nghiệp).
      • Đoạn kiến: Khổ do người khác làm mà mình phải chịu (ví dụ: tội tổ tông, cha ăn mặn con khát nước, bói toán).
    • 4.5.3. Không thấy sự thật duyên khởi sẽ rơi vào thường kiến hoặc đoạn kiến.
    • 4.5.4. Hiểu đúng duyên khởi giúp không đổ lỗi cho mình (thường kiến) hay người khác (đoạn kiến).

5. Tổng kết phân biệt Khổ và Khổ Đế

  • 5.1. Khổ Đế theo Kinh Chuyển Pháp Luân
    • 5.1.1. Bảy khổ hiện tượng: Sinh, già, bệnh, chết, cầu bất đắc, oán tắng hội, ái biệt ly.
    • 5.1.2. Một khổ bản chất: Năm thủ uẩn là khổ.
  • 5.2. Yêu cầu tuệ tri
    • 5.2.1. Hiểu rõ năm thủ uẩn là khổ vận hành trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo.
    • 5.2.2. Tuệ tri khổ là do duyên xúc, duyên khởi, vô thường, vô chủ, vô sở để chấm dứt tà kiến.
  • 5.3. Giải đáp thắc mắc
    • 5.3.1. Về cách giảng Khổ Đế: Các khóa trước tập trung bản chất, nay bổ sung mặt hiện tượng để khai thác đầy đủ và thuyết phục hơn.
    • 5.3.2. Về Tà định: Nội hàm được giảng kỹ trong khóa chín ngày, không thuộc phạm vi buổi này.
    • 5.3.3. Về đổ lỗi cho duyên: Đổ lỗi cho duyên vẫn là chấp ngã. Hiểu đúng khổ do căn trần tiếp xúc, không còn năm thủ uẩn thì khổ sẽ không còn.

6. Giải đáp về Khổ Đế và sự khác biệt giữa Phàm phu với Đức Phật

  • 6.1. Khổ Đế đúng với tất cả mọi người, mọi lúc, mọi nơi
    • 6.1.1. Điều này đúng với lộ trình tâm Bát tà đạo.
    • 6.1.2. Đức Phật không còn lộ trình tâm Bát tà đạo nên Khổ Đế không còn đúng với Ngài.
  • 6.2. Phân biệt khổ thân và khổ tâm
    • 6.2.1. Phàm phu: Có cả khổ thân (cảm giác khó chịu do căn trần tiếp xúc) và khổ tâm (tham sân si, bực bội với cảm giác đó).
    • 6.2.2. Bậc giác ngộ: Chỉ có khổ thân, không có khổ tâm.
      • Các khổ như cầu bất đắc, oán tắng hội, ái biệt ly thuộc về khổ tâm, chỉ tồn tại ở phàm phu.
      • Ngữ cảnh “đúng cho tất cả mọi người” là đang nói về phàm phu.
  • 6.3. Trạng thái của bậc Thánh A La Hán và Đức Phật
    • 6.3.1. Đã đạt đến Khổ diệt, không còn những nỗi khổ tâm.
    • 6.3.2. Vẫn còn dư sót phần khổ thân (Niết bàn hữu dư).
    • 6.3.3. Chỉ khi nhập diệt mới gọi là Niết bàn vô dư.

Phần Kết luận

Bài giảng nhấn mạnh sự cần thiết phải phân biệt rõ ràng giữa “Khổ” cá nhân và “Khổ Đế” phổ quát, chân lý đầu tiên trong Tứ Diệu Đế. Khổ Đế bao gồm bảy hiện tượng khổ và bản chất năm thủ uẩn là khổ, phát sinh do duyên xúc và duyên khởi. Thấu triệt Khổ Đế giúp loại bỏ các tà kiến về khổ, nhận ra khổ là vô thường, vô chủ, vô sở, từ đó chấm dứt tư tưởng chấp ngã và lộ trình tâm Bát tà đạo.

Pháp đàm: Phân biệt Khổ và Khổ Đế

Hôm nay tôi muốn trao đổi với quý vị đề tài phân biệt giữa Khổ và Khổ Đế. Tuy đề tài này đã được đề cập nhiều lần nhưng nó vẫn rất quan trọng.

Quý vị thấy rằng đạo Phật chỉ nói đến khổ. Thực chất, đạo Phật nói đầy đủ về khổ, nguyên nhân khổ, sự chấm dứt khổ và con đường chấm dứt khổ.

Có một sự hiểu lầm rất lớn trong cách hiểu của nhiều người học Phật hiện nay. Đó là không phân biệt được khái niệm Khổ và Khổ Đế.

Giáo pháp đề cập đến Khổ Đế, tức là Thánh đế thứ nhất, chân lý thứ nhất mà bậc Thánh đã giác ngộ. Đa phần không nhận thức được giáo pháp này tập trung vào Khổ Đế.

Do không phân biệt được Khổ và Khổ Đế nên nhiều người lầm nhận. Có người cho rằng đạo Phật nói cuộc đời này là khổ nên dẫn đến bi quan.

Ngược lại, có những người thấy cuộc đời vui vẻ, hạnh phúc nên họ lạc quan. Họ khẳng định mình không khổ và cho rằng đạo Phật bi quan khi nói khổ tràn lan.

Quý vị phải hiểu rằng nói về khổ không phải là mục đích của Phật giáo. Phật giáo nói về Khổ Đế, tức là hiểu biết đúng sự thật về khổ.

Khi có hiểu biết đúng sự thật, chúng ta không còn bi quan hay lạc quan với cuộc đời. Lúc đó, cái thấy biết đúng sự thật sẽ không còn thái độ cực đoan.

Đa phần con người chỉ hiểu về cái khổ cá nhân. Người này đau bụng là khổ, người kia bị đánh đập là khổ, người khác có bố mẹ qua đời là khổ.

Họ kể lể các cái khổ đó rồi cho rằng đó là Khổ Đế. Kể cả nhiều người giảng dạy cũng liệt kê các loại khổ rồi đồng nhất chúng với Khổ Đế.

Những cái khổ đó đúng là sự thật, nhưng chúng khác nhau tùy người. Người thì đau đầu, người bệnh tật, người thất tình.

Cái khổ của người thất tình không có ở nơi người đau dạ dày. Vì vậy, cái khổ đó là sự thật đối với người này nhưng không phải với người kia.

Sự thật có hai loại. Loại thứ nhất là sự thật cá nhân, xảy ra với người này nhưng không xảy ra với người kia, ở chỗ này mà không ở chỗ khác.

Loại thứ hai là sự thật mang tính phổ quát. Nó có tính quy luật, đúng cho tất cả mọi người, mọi lúc và mọi nơi.

Giáo pháp mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni chứng ngộ và thuyết giảng là chân lý phổ quát. Nó không bị chi phối bởi thời gian và không gian.

Ai cũng có thể cảm nhận được cái khổ khi nó xảy đến. Tuy nhiên, hiểu biết đúng sự thật về khổ mang tính phổ quát thì mới gọi là Khổ Đế.

Không phải ai cũng có hiểu biết đúng sự thật về khổ. Có hai loại hiểu biết: hiểu biết sai gọi là Vô minh tà kiến, hiểu biết đúng gọi là Minh chánh kiến.

Chỉ có hiểu biết đúng sự thật về khổ mới được gọi là Khổ Đế. Để thấu triệt Khổ Đế, quý vị phải phân biệt được cái hiểu sai và cái hiểu đúng.

Quá trình này gọi là Trạch pháp. Nhờ hiểu biết đúng sự thật về Khổ Đế, chúng ta mới phân biệt được những hiểu biết sai lầm trước đó.

Trong bài kinh Chuyển Pháp Luân, phần đầu tiên nói về Thánh đế về khổ. Nội dung này rất đơn giản, ngắn gọn nhưng vô cùng đầy đủ.

Thánh đế về khổ gồm tám điều: Sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ. Cầu bất đắc khổ là cầu mong mà không được.

Oán tắng hội khổ là oán giận nhau mà phải sống chung. Ái biệt ly khổ là yêu thương nhau mà phải chia lìa. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.

Khổ Đế nêu lên hai khía cạnh của sự thật. Bảy điều đầu tiên nói về sự thật khổ trên mặt hiện tượng.

Điều thứ tám, tóm lại năm thủ uẩn là khổ, nói đến sự thật về mặt bản chất. Quý vị cần phân biệt rõ hai khía cạnh hiện tượng và bản chất này.

Bảy hiện tượng khổ đầu tiên là sự thật phổ quát, đúng cho tất cả mọi người khi quan sát trên mặt hiện thực.

2. Khổ đế là sự thật phổ quát cho mọi thời đại

Sự thật này không bị chi phối bởi thời gian. Cho dù con người sống cách đây mấy triệu năm, mấy nghìn năm, đang sống bây giờ hay trong tương lai thì đều có cái khổ này. Đây gọi là sự thật về khổ xét theo mặt hiện tượng.

Bất kỳ ai già thì đều có nỗi khổ. Khi già, mắt mờ, chân chậm, răng rụng và sức yếu so với thời trẻ mạnh khỏe. Bất kỳ người già nào cũng có bệnh tật, yếu đuối và những nỗi khổ đó.

Điều này gọi là chân lý, là sự thật hay Khổ đế vì nó đúng cho tất cả con người. Hễ bất kỳ người nào già thì đều có những nỗi khổ đó.

Khi khỏe mạnh, người ta cảm thấy thân thể bình thường. Nhưng khi bệnh, ai cũng cảm nhận được cái khổ, dù là bệnh nan y, bệnh bình thường hay cảm cúm. Bệnh là sẽ có khổ.

Điều này đúng cho tất cả mọi người nên nó là chân lý, là sự thật phổ quát gọi là Khổ đế. Già là khổ, bệnh là khổ và đặc biệt chết là khổ.

Trong nhân gian, gia đình nào có người thân chết thì bản thân người đó khổ. Những người thân yêu cũng khổ. Chết là khổ nhưng đó mới là khía cạnh ngoại lai.

Bất kỳ người nào đối diện với cái chết thì nỗi khổ do sợ hãi cái chết rất kinh khủng. Sinh, già, bệnh, chết là nỗi khổ phổ quát. Nó là quy luật chung và đúng cho tất cả mọi người nên gọi là Khổ đế.

Điều này khác với việc một người đau bụng, bị vợ ngoại tình hay bị mất cắp là khổ. Những cái khổ đó chỉ xảy ra đối với từng người riêng biệt. Người đau bụng có cái khổ đó, người khác lại khổ kiểu khác.

Những cái khổ mang tính cá nhân không phải quy luật phổ quát nên không gọi là Khổ đế. Còn sinh, già, bệnh, chết đúng và xảy ra với tất cả mọi người thì mới gọi là Khổ đế.

Cầu bất đắc khổ là cầu mong cái gì mà không được là khổ. Quý vị có thể khẳng định mình đã trải qua sự thật này. Sự thật này không chỉ đúng cho cá nhân này mà xảy ra với tất cả mọi người.

Bất kỳ ai, già trẻ gái trai, giàu nghèo, ngu trí, trẻ con hay ông già đầu bạc răng long, hễ cầu mong mà không được là khổ. Đây là sự thật trần trụi, đơn giản mà ai cũng đã kinh nghiệm trong cuộc đời.

Ví dụ một ông già mong con cái về thăm nhưng con không về thì ông khổ. Ông đau chân, mong chữa lành để đi lại khỏe mạnh nhưng chữa mãi không khỏi thì đó là cầu bất đắc khổ.

Kể cả đứa trẻ một hai tuổi, khi đói đòi bú mẹ mà không được bú thì nó khóc và khổ. Cho nên cầu bất đắc khổ là chân lý, là Khổ đế với tất cả mọi người.

Oán tắng hội khổ là oán giận nhau mà phải gặp nhau là khổ. Đây là sự thật trần trụi trong cuộc sống. Hễ tức giận ai mà phải gặp gỡ, chung sống với người đó thì là khổ.

Ái biệt ly khổ là yêu thương mà phải xa cách là khổ. Yêu thương người nào mà phải xa cách người đó, như bị phụ tình hay một trong hai người phải chết thì đều khổ.

Không chỉ giữa người với nhau, yêu thương một con vật mà mất nó đi cũng là khổ. Đức Phật nói rất ngắn gọn nhưng đầy đủ sự thật đang xảy ra trong cuộc sống này.

Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ. Đây là sự thật về khổ, đúng cho tất cả mọi người và mọi thời đại.

Khi đi sâu vào điều này, quý vị có thể gieo duyên với người khác. Nhiều người nói họ không khổ vì họ không thấy được sự thật phổ quát này. Họ cho rằng nhà cửa đầy đủ, giàu có, khỏe mạnh, con cái thành đạt thì không có gì khổ.

Vì nhận thức mình không khổ nên họ không muốn học hay thực hành để chấm dứt khổ. Khi họ nói vậy, nhiều người không có lý lẽ để bắt bẻ họ.

Nhưng nếu quý vị thấy được sự thật trần trụi, đơn giản này để nói với họ, chắc chắn họ phải chấp nhận. Bất kỳ người nào cũng phải sinh, già, bệnh, chết.

Ba loại khổ: cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ thường xuyên xảy ra với mỗi người trong mọi hoàn cảnh. Chỉ ra những điều này thì họ phải công nhận.

Quý vị cần nghiên cứu kỹ để khi tiếp cận các đối tượng khác nhau, có thể lấy dẫn chứng về Khổ đế mang tính phổ quát. Ví dụ như đối với học sinh đi học hè.

Nếu nói già, bệnh, chết là khổ thì trẻ con không thấy thích hợp vì chúng chưa trải qua. Nhưng nếu phân tích cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ái biệt ly khổ trong đời sống hàng ngày thì chúng phải công nhận ngay.

Vấn đề thứ nhất là chúng ta khảo sát Khổ đế về mặt hiện tượng. Quý vị hãy nhớ bảy cái khổ: Sinh, già, bệnh, chết, cầu bất đắc, oán tắng hội và ái biệt ly.

3. Tuệ tri Khổ đế: Bản chất của Khổ và Năm thủ uẩn

Việc quan sát khổ trong cuộc sống hàng ngày rất đơn giản. Đây gọi là tuệ tri Khổ đế về mặt hiện tượng.

Về mặt bản chất, kinh điển xác định rõ: tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Bài kinh Chuyển Pháp Luân đã khẳng định điều này để chỉ ra hiểu biết đúng sự thật về bản chất của khổ.

Quý vị cần hiểu rằng con người không phải không có hiểu biết về khổ. Tuy nhiên, có một định nghĩa rất sai lạc và phổ biến cho rằng vô minh là không biết về Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Định nghĩa đó hoàn toàn sai. Vô minh không phải là không biết, mà là hiểu biết sai sự thật về Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Cái biết sai lầm cho rằng khổ hay vui luôn thường hằng ở thế giới bên ngoài. Người ta tin khổ nằm sẵn trong hoàn cảnh sống như nghèo đói, bệnh tật hay thời tiết khắc nghiệt.

Con người cho rằng khổ từ thế giới bên ngoài đến với mình. Họ tin những sự việc, công việc hay những người khác làm cho mình khổ. Chính hiểu biết sai lầm này mới gọi là vô minh, là tà kiến.

Kinh Chuyển Pháp Luân nói rõ: tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Chấp thủ là khi cho rằng Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức này là ta, là của ta. Chính tư tưởng chấp ngã này mới phát sinh khổ.

Bảy cái khổ trước là Khổ đế xét về mặt hiện tượng. Còn năm thủ uẩn là khổ là xét về mặt bản chất.

Trong kinh điển đôi khi có sự lẫn lộn. Có bản kinh nói năm thủ uẩn là khổ, nhưng cũng có nhiều bản kinh lại nói năm uẩn là khổ.

Nếu nói năm uẩn là khổ, tức là cho rằng khổ sẵn có và thường trú trong năm uẩn. Đây chính là hiểu biết vô minh, tà kiến vì coi khổ là thứ thường hằng ở thế giới bên ngoài.

Quý vị phải tuệ tri bản chất năm thủ uẩn là khổ. Nghĩa là khi có tư tưởng chấp ngã, chấp thủ năm uẩn thì lúc đó mới khởi lên khổ.

Khổ thuộc về nội tâm, không thuộc về thế giới bên ngoài. Nó không có trong các đối tượng của thực tại mà phát sinh trong lộ trình tâm Bát tà đạo.

Lộ trình này bắt đầu từ căn trần tiếp xúc phát sinh đồng thời Thọ, Tưởng. Duyên với Thọ Tưởng phát sinh Tà niệm, rồi đến Tà tư duy và Tà tri kiến.

Tà tri kiến chính là cái biết ý thức sai lạc, dẫn đến Tham, Sân, Si. Từ đó phát sinh Tà định, Dục, Tà tinh tấn, Phi như lý tác ý và cuối cùng là Khổ.

Như vậy, khổ không sẵn có nơi ngoại cảnh hay nơi năm uẩn. Khổ chỉ phát sinh nơi nội tâm trên lộ trình tâm Bát tà đạo.

Trong cái biết ý thức tà kiến có hai phần: chủ thể biết và đối tượng được biết. Chủ thể biết mang nội dung: ta biết, của ta, hơn ta, kém ta, bằng ta.

Chính chủ thể này là tư tưởng chấp ngã, cho rằng ta là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành hoặc Thức. Khi tương tác với đối tượng dễ chịu, nó phát sinh Tham.

Khi tương tác với đối tượng khó chịu, nó phát sinh Sân. Khi tương tác với đối tượng trung tính, nó phát sinh Si.

Chính tư tưởng chấp ngã (năm thủ) tương tác với đối tượng mới phát sinh khổ. Vì vậy, chúng ta nói năm thủ uẩn là khổ.

4. Hai phần chủ thể và đối tượng

Chủ thể là tư tưởng chấp ngã là năm thủ uẩn. Nó chính là nhân làm phát sinh tham sân si và phát sinh khổ. Cô Quang Diên đã kết thúc sơ đồ này.

Đầu tiên, quý vị phải tuệ tri được năm thủ uẩn là khổ. Đây là hiểu biết đúng sự thật về khổ. Khổ phát sinh nơi nội tâm.

Nguyên nhân của khổ là tư tưởng chấp ngã. Tư tưởng cho rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức là ta, là của ta gọi là năm thủ uẩn. Đây là sự thật về mặt bản chất của khổ.

Quý vị phải đi sâu hơn nữa. Tuy nói năm thủ uẩn là khổ là cách nói tắt, nhưng quý vị phải tùy tri khổ đế là sự thật về khổ. Khổ là do duyên khởi hay khổ là do duyên xúc?

Khi căn trần tiếp xúc, thọ tưởng phát sinh đồng thời. Duyên với thọ tưởng phát sinh tà niệm. Duyên với tà niệm phát sinh tà tư duy.

Duyên với tà tư duy phát sinh tà tri kiến. Trong tà tri kiến này có tư tưởng chấp ngã gọi là năm thủ uẩn. Duyên với năm thủ uẩn đó mà phát sinh tham, sân hoặc si.

Duyên với tham sân si phát sinh tà định. Duyên với tà định phát sinh dục. Duyên với dục phát sinh tà tinh tấn.

Duyên với tà tinh tấn phát sinh phi như lý tác ý. Duyên với phi như lý tác ý phát sinh tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng. Từ đó mới phát sinh khổ.

Khổ phát sinh theo một tiến trình duyên khởi. Rất nhiều duyên nối tiếp nhau cuối cùng mới phát sinh ra khổ. Duyên khởi này là do duyên xúc.

Quý vị quan sát thấy khi căn trần tiếp xúc thì khổ mới phát sinh. Nếu có căn, có trần mà không tiếp xúc thì khổ không khởi lên. Khổ là do duyên khởi là như vậy.

Ví dụ sáu trần bên ngoài vẫn có nhưng sáu căn không hoạt động. Khi ngủ say không mộng mị, khi ngất đi hoặc khi gây mê sâu thì sáu căn không hoạt động. Không có xúc nên không có khổ.

Điều này khẳng định khổ là do duyên xúc, do xúc mới khởi lên. Khổ là do duyên khởi. Quý vị quan sát sự thật trong ba trường hợp đó sẽ thấy không có khổ.

Nếu quý vị tiếp xúc với người mình ghét cay ghét đắng thì khổ khởi lên, gọi là oán tằng hội khổ. Nếu quý vị xa lánh, không tiếp xúc với người đó thì khổ chắc chắn không khởi lên.

Khi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân không tiếp xúc với người đó thì khổ không khởi lên. Nhưng nếu ý tiếp xúc với pháp, quý vị tưởng thấy người đó thì khổ vẫn khởi lên.

Trường hợp chuyện cũ vẫn ở trong bộ nhớ nhưng quý vị không tưởng thấy thì khổ không khởi lên. Lúc đó ý không tiếp xúc với pháp. Cho nên khổ là do duyên xúc.

Vì khổ do duyên khởi nên khổ có tính chất vô thường. Khổ cũng có tính chất vô chủ, vô sở. Khổ sinh lên rồi diệt đi chứ không thường hằng ở đâu cả.

Khổ không phải của ai cả, không có ông A bà B nào chịu khổ. Khổ là vô chủ vô sở. Về mặt bản chất, quý vị phải hiểu năm thủ uẩn là khổ.

Nói một cách chính xác, khổ là do duyên xúc, do duyên khởi. Vì vậy khổ là vô thường, vô chủ, vô sở. Khi tùy tri khổ đế, quý vị sẽ trạch pháp và tùy tri được vô minh.

Vô minh là hiểu biết sai về khổ. Khổ ở nội tâm lại cho rằng ở bên ngoài. Hoặc cho rằng khổ đang chịu là do mình làm từ các kiếp trước.

Quan niệm mình tạo nghiệp kiếp trước nên kiếp này phải trả nghiệp, chịu khổ là thường kiến. Đây là một tà kiến. Cho rằng có một cái ta thường hằng tạo nghiệp và trả nghiệp.

Thường kiến này rất phổ biến hiện nay. Nhiều người cho rằng tu là để trả nghiệp đã tạo trong quá khứ. Họ tin rằng khổ kiếp này là quả trổ ra từ quá khứ.

Quan điểm thứ hai là khổ do người khác làm mà mình phải chịu, gọi là đoạn kiến. Mình không làm nhưng người khác làm mà mình phải chịu khổ.

Ví dụ nổi bật là truyền thuyết về ông Adam và bà Eva. Họ phạm tội ăn quả cấm và con cháu đời sau phải chịu khổ thay. Chúa bắt con người chịu khổ do tội tổ tông.

Đây gọi là đoạn kiến, một người làm mà người khác chịu. Tương tự như câu thành ngữ Á Đông “cha ăn mặn con khát nước”. Tội lỗi của cha làm mà con phải chịu.

Khổ của người con phải do duyên xúc của chính người con chứ không phải cha làm con chịu. Các quan niệm về bói toán, gia sự cũng thường rơi vào đoạn kiến.

Họ phán rằng nạn tai là do mồ mả tổ tiên hay bà tổ cô trừng phạt. Hoặc phước đức ngày nay là do tổ tiên phù hộ. Đó đều là những quan điểm đoạn kiến.

Nếu không thấy được sự thật duyên khởi, con người sẽ rơi vào thường kiến hoặc đoạn kiến. Đó là những hiểu biết sai sự thật về khổ.

Trước khi tu, người ta thường tìm lỗi người khác và cho rằng khổ do lỗi người khác, đó là đoạn kiến. Khi tu rồi, họ không tìm lỗi người mà tìm lỗi mình, cho rằng khổ này do mình gây ra.

5. Phân biệt Khổ và Khổ đế

Thực ra đó là thường kiến. Quý vị phải phân biệt giữa khái niệm khổ và Khổ đế. Quý vị hãy bám sát bài kinh Chuyển Pháp Luân.

Khổ đế được nhắc đi nhắc lại là sinh, già, bệnh, chết là khổ. Cầu bất đắc, oán tăng hội, ái biệt ly là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn là khổ.

Quý vị cần phân biệt Khổ đế về mặt hiện tượng là bảy yếu tố đầu. Khổ đế về mặt bản chất là yếu tố thứ tám: năm thủ uẩn là khổ.

Quý vị phải đi sâu tư duy và thuộc lòng năm thủ uẩn là khổ diễn ra như thế nào. Nó vận hành trên lộ trình tâm Bát Tà Đạo ra sao?

Tiếp theo, quý vị phải tuệ tri khổ là do duyên xúc, do duyên khởi. Khổ là vô thường, vô chủ, vô sở để chấm dứt tà kiến, thường kiến và đoạn kiến về khổ.

Quý vị hãy học thuộc lòng và phân tích tư duy về Khổ đế mặt hiện tượng và bản chất. Từ đó, quý vị mới tuệ tri được vô minh về khổ và những hiểu biết không đúng sự thật.

Pháp đàm tối nay kết thúc tại đây. Nếu ai có thắc mắc cần giải đáp, ban tổ chức có thể đưa lên.

Câu hỏi: Tại sao trong các bài giảng, sư không giảng Khổ đế theo bảy khổ hiện tượng và bản chất như thế này mà chỉ nói tới khổ không có sẵn, hoàn cảnh khổ thuộc về nội tâm? Hai cách giảng này có gì giống và khác nhau?

Trả lời: Trong khóa chín ngày, chúng ta đã xét Khổ đế về mặt bản chất và khảo sát lộ trình tâm. Chúng ta cũng khảo sát sự thật về khổ để phân biệt hiểu biết sai và đúng.

Khổ phát sinh nơi lộ trình tâm. Trước đây, các khóa học thường chỉ xét khổ về mặt bản chất. Bây giờ, chúng ta bổ sung thêm mặt hiện tượng để mọi người hiểu rõ hơn.

Việc bổ sung này giúp chúng ta khai thác triệt để và đầy đủ những điều Phật dạy. Nội dung về bản chất đã có trong các khóa trước, nay thêm mặt hiện tượng để quý vị thuyết phục người khác rõ ràng hơn.

Câu hỏi: Cho con hỏi nội hàm của Tà định ở đây là gì?

Trả lời: Nội hàm của Tà định được giảng kỹ vào ngày thứ ba của khóa chín ngày. Nội dung này nằm ngoài phạm vi của buổi tập trung vào Khổ đế hôm nay.

Quý vị có thể tự tìm hiểu trong bài giảng ngày thứ ba hoặc đọc cuốn “Con đường hai ngã”. Trong đó có bài giảng chi tiết về Tà định và Chánh định.

Câu hỏi: Trước kia con cho rằng lỗi do mình gây ra là thường kiến, lỗi do người khác làm mình khổ là đoạn kiến. Sau khi học Lý Duyên Khởi, con hiểu hai nhân tương tác mới phát sinh quả. Vậy con đổ thừa do duyên mới làm mình khổ có hợp lý không?

Trả lời: Quý vị cần quan sát duyên ở đây là căn và trần tiếp xúc với nhau. Khi đó, lộ trình tâm Bát Tà Đạo mới khởi lên khổ, nên khổ là do duyên khởi.

Đã là duyên khởi thì nó vô thường, vô chủ, vô sở. Điều này đồng nghĩa không có chủ nhân hay ai làm ra cái khổ đó cả.

Trước kia quý vị cho rằng khổ do mình hoặc người khác làm là tư tưởng chấp ngã, là năm thủ uẩn. Đó chính là thường kiến hoặc đoạn kiến.

Khổ phát sinh do sự tiếp xúc giữa hai nhân, sự tiếp xúc này cũng vô chủ, vô sở. Vấn đề quan trọng là hiểu đúng bản chất duyên khởi để không còn tư tưởng chấp ngã.

Nếu quý vị đổ lỗi cho duyên thì đó vẫn là biểu hiện của chấp ngã. Khi hiểu đúng khổ do căn trần tiếp xúc, không còn năm thủ uẩn thì khổ sẽ không còn.

Khi tuệ tri khổ do duyên khởi, tư tưởng chấp ngã biến mất thì vấn đề được giải quyết xong. Quý vị không cần phải băn khoăn hay thắc mắc thêm.

6. Giải đáp về Khổ đế và sự khác biệt giữa Phàm phu với Đức Phật

Câu hỏi: Thưa sư phụ, khi sư phụ giảng có bảy nỗi khổ thuộc về mặt hiện tượng và một nỗi khổ về mặt bản chất, đó là Khổ đế. Nếu là Khổ đế thì sẽ đúng với tất cả mọi người, mọi lúc, mọi nơi và đúng với cả Đức Phật.

Như vậy, khi có những hiện tượng đó thì Đức Phật cũng phát sinh khổ. Con nghĩ diễn đạt trong kinh như thế có thể gây hiểu lầm. Nếu diễn đạt duyên với bệnh phát sinh khổ, duyên với cầu không được phát sinh khổ thì sẽ chính xác hơn.

Ví dụ với Đức Phật, khi bệnh có mặt thì Ngài cũng có nỗi khổ về bệnh. Còn các khổ như cầu bất đắc, ái biệt ly, oán tắng hội thì với phàm phu mới có mặt vì còn cầu mong, còn Đức Phật không còn cầu mong nên khổ không có mặt. Con giải thích như vậy có hợp lý không?

Trả lời: Chúng ta phải hiểu ngữ cảnh ở đây. Khi nói về Khổ đế, tức hiểu biết đúng sự thật về khổ, thì đúng là nó đúng cho tất cả mọi lúc mọi nơi. Tuy nhiên, chúng ta phải đi sâu vào bản chất.

Khổ đế này đúng với lộ trình tâm Bát tà đạo. Đức Phật không còn lộ trình tâm Bát tà đạo nữa nên điều này không còn đúng với Ngài. Quý vị cần phân biệt rõ giữa khổ thân và khổ tâm.

Đối với phàm phu, khi căn trần tiếp xúc phát sinh cảm giác khó chịu thì đó là khổ thân. Do có tham sân si, bực bội với cảm giác đó nên phát sinh thêm khổ tâm. Phàm phu có cả hai loại khổ này.

Đối với bậc giác ngộ, các Ngài chỉ có khổ thân chứ không có khổ tâm. Những nỗi khổ như cầu bất đắc, oán tắng hội, ái biệt ly rõ ràng thuộc về khổ tâm, nên chúng chỉ tồn tại ở phàm phu.

Ngữ cảnh nói “đúng cho tất cả mọi người” là đang bàn về phàm phu. Các bậc Thánh A La Hán đã đạt đến Khổ diệt nên không còn những nỗi khổ này nữa.

Sự thật về khổ không còn xảy ra nơi Đức Phật, tuy vậy vẫn còn dư sót phần khổ thân. Đối với bậc giác ngộ, đó gọi là Niết bàn hữu dư. Chỉ khi nhập diệt mới gọi là Niết bàn vô dư.

Vì thời gian có hạn, chúng ta không thể đi sâu toàn bộ. Quý vị có thể tìm hiểu thêm ở các khóa học để phân biệt rõ tỷ lệ giữa khổ thân và khổ tâm.

Nguồn: https://www.youtube.com/watch?v=6-n-n-n
Tác giả: Thiền sư Nguyên Tuệ